Tác giả xin chú giải một số bát tự thập thần thú đàm:
- Nếu xung quanh Nhật can có Ấn tinh làm dụng thần, điều này cho thấy mệnh chủ là người được yêu thích, đi đến đâu cũng được mọi người quý mến. Đây cũng là một dạng thái độ giao tiếp xã hội.
- Những người thành công lớn thường có đại vận là sự kết hợp Thiên Can – Địa Chi đồng nhất, vì năng lượng mạnh, mệnh chủ làm việc với sự tận tâm và nhiệt huyết toàn diện. Ngược lại, nếu đại vận bị “Cái Đầu, Tiệt Cước”, cả đời khó có thành tựu, gặp nhiều trở ngại, làm gì cũng không được lâu dài, khó duy trì bền vững.
- Trong ý nghĩa sinh – khắc, “sinh” là yếu tố dẫn dắt, là ngòi nổ.
- Quan Sát vượng khắc thân ( là kị thần ) thì chậm ngủ, thức đêm.
- “Sinh” chính là sự kết nối, là duyên phận. Sinh ai thì duyên phận với người đó đến.
- Thông tin của đại vận và lưu niên luôn kết hợp với nhau, cần xem xét tổng thể. Đôi khi, sự kiện xảy ra trong lưu niên chỉ là tín hiệu báo trước của đại vận.
- Tam hội, tam hợp cục biểu thị sự tập trung về tinh thần, sự đoàn kết, cảm giác tụ hợp tới gần. Nếu Nhật Can gần gũi thập thần nào thì xung quanh mệnh chủ dễ tụ họp những kiểu người như vậy, đi đâu cũng gặp nhóm người đó.
- Các ngươi chịu thống khổ bất quá chỉ là sự phản ánh của họa tích lũy năng lượng nghiệp báo mà thôi.
- Nữ mệnh trong hôn nhân: Chính Quan là người trung thực, hiền lành. Nếu Thất Sát làm chồng, người đó có khuynh hướng bạo lực.
- Kiêu ấn trời sinh là nhà tâm lý học.
- Thương Quan ngoại tình rất nhiều, có tư tưởng cởi mở về tình cảm, chủ động trong chuyện yêu đương, đa tình, dễ ngoại tình, quan niệm về gia đình mờ nhạt.
- Thất sát là dụng xuyên thấu qua can năm có tinh thần khởi nghiệp mạnh mẽ, dễ có động lực đầu tư vào ngành nghề mới.
- Phục Ngâm ở cung vị sẽ liên quan đến chuyện của lục thân. Phục Ngâm ở đại vận là dấu hiệu liên quan đến chính bản thân.
- Tam hợp, tam hội cục ứng tai họa đặc biệt rõ ràng.
- Có một ít cuộc kết hôn là do cảm ứng lưu niên của đối phương, còn lưu niên của bản thân đôi khi không thể hiện rõ điều này.
- Thực thương làm Dụng thần, thường thấy người đó làm nghề giáo viên, luật sư hoặc có năng khiếu vượt trội về văn học.
- Xung là tín hiệu của sinh ly tử biệt.
- “Khắc” có nghĩa là mất đi, rời xa.
- Ấn mang Dịch Mã thường là dấu hiệu đi học xa. Nếu thời chi gặp xung, có thể là dấu hiệu xuất ngoại. Nếu Kim Ấn là kỵ thần, có thể là dấu hiệu tai nạn xe cộ. Khi căn khí Phục Ngâm là dụng thần, thường có xu hướng chuyển nhà nhiều lần.
- Sinh con, nếu tử nữ tinh vượng thì sinh con trai, nhược thì sinh con gái.
- Lượng oxy mà động vật hít thở không dồi dào như thực vật, vì vậy thực vật thường có tuổi thọ dài hơn động vật. Tuổi thọ có liên quan đến việc có đủ oxy hay không. Ở một số khu rừng và khu du lịch, có những cây có tuổi thọ hàng trăm năm.
- Nhật can – chi đồng nhất biểu thị sự trong ngoài như một. Để nhìn thấu tâm tính con người, cần xem xét Nhật can – chi. Nhật can là bề ngoài, nhật chi là thế giới nội tâm. Như mậu tý nhật can, nếu bỏ qua tâm tính của Thập thần để xét riêng bản chất, Mậu không có căn, tức là bề ngoài là Thổ nhưng thực chất là Thủy. Điều này có nghĩa là bên ngoài trông trung hậu nhưng bên trong lại gian trá, hiểm độc.
- Thiên can đại diện cho miệng, nếu Thiên can khắc Nhật chủ thì biểu thị lời nói công kích, đây chính là dấu hiệu của thị phi, tranh cãi.
- Tỉ kiếp chủ thân thể, tỉ kiếp vượng thì thể chất tốt, tỉ kiếp phục ngâm là kị thần thì dễ gặp bệnh tật hoặc tai nạn liên quan đến cơ thể.
- Xét từ Nhật can, trụ tháng đại diện cho bên phải, trụ ngày và trụ giờ đại diện cho bên trái.
- Kim là kị thần mà vượng thì dễ bị phẫu thuật, ấn là phẫu thuật, phẫu thuật là bảo vệ bản thân khỏi bệnh tật nên thuộc về Ấn.
- Không có căn không thích về nhà, thích phiêu bạt, lang thang bên ngoài. Những kẻ du đãng trong xã hội cũng thuộc kiểu này, bởi vì căn có thể giúp ổn định, an cư lạc nghiệp tại địa phương. Có căn cùng không có căn chính là hoàn cảnh sống có chỗ dựa hay không.
- Không có căn hoặc có bao nhiêu căn liền có mấy cái nhà? Không có căn biểu thị trạng thái phiêu bạt, suốt ngày bận rộn bên ngoài, cũng đồng nghĩa với việc không có chỗ ở cố định.
- Huyền vũ là biểu thị hoài nghi, ngờ vực vô căn cứ.
- Khi đi đường, nếu vô tình bị trượt chân, vấp ngã, đó là do thần sát Dịch Mã tác quái.
- Ấn tinh và Thực Thương gặp xung thường báo hiệu sự thay đổi về học tập hoặc nơi ở, như học lên cấp, chuyển nhà, thay đổi nghề nghiệp.
- Nếu lòng bàn tay trái dày lên hoặc có cảm giác dày hơn bình thường, đó là dấu hiệu tài vận sắp đến. Ăn nhiều thịt bò có thể giúp tạo hiệu quả này.
- Thương thực quá vượng ngay cả khi là dụng thần cũng có thể dẫn đến kiện tụng hoặc tai họa lao tù.
- Kiêu là dụng thần là cao thủ xem tượng, dù cho là kị thần cũng rất lợi hại, rất giỏi tư duy tượng hình. Cho nên kiêu thần trời sinh dịch học thiên tài, có trực giác và linh cảm mạnh mẽ, chính là thường nói có giác quan thứ sáu, mộng cảnh nắm tượng, năng lực vượt mức quy định.
- Ngôn ngữ và cảnh giới cao nhất của Dịch học chính là “tượng”, sinh ra từ sự quan sát mặt trời và mặt trăng. Muốn trở thành bậc thầy Dịch học, cần có khả năng quan sát và lĩnh hội sâu sắc về “tượng”.
- Dụng thần chính là thiên phú của bản thân, là nguồn tài nguyên có thể khai thác, cũng là “vốn đặt cược” của mỗi người.
- “Phúc” chính là sự đầy đặn. Bất cứ thứ gì giúp con người béo tốt lên đều đại diện cho phúc khí. Phúc Thần là một vị thần rất mập mạp.
- Hỷ thần và kỵ thần tạo thành trường khí tuần hoàn, trong thực tế, mọi thứ đều liên kết chặt chẽ. Cái này ảnh hưởng đến cái kia, nhân quả luân hồi.
- Khi trường khí xấu đến gần, nó sẽ từng bước kéo bạn vào sự hủy diệt và khổ đau. Khi dụng thần và hỷ thần đến gần, đó là sự tiếp cận của trường khí tích cực, giúp bạn ngày càng phát triển tốt hơn.
- Tám quẻ Bát quái: thiên, địa, trạch, lôi, phong, sơn, thủy, hỏa đại diện cho các hiện tượng tồn tại trong trời đất. Ví dụ, quẻ Chấn (Sấm) không chỉ đơn thuần đại diện cho sấm sét mà còn tượng trưng cho mọi thứ phát ra âm thanh. Tiếng trống vang lên cũng thuộc quẻ Chấn. Tiếng chim hót hay ngay cả một tấm biển quảng cáo có chữ “Minh” (鳴 – kêu) cũng có thể thuộc về Chấn. Mọi thứ có thể phát ra âm thanh, gây ồn ào hoặc mang tính động đều thuộc về quẻ Chấn.
- Thái Dương (Bính Hỏa) tượng trưng cho tình yêu và sự cống hiến, mang lại hơi ấm cho mọi người và vạn vật, thể hiện phẩm chất cao quý. Khi tra nghĩa của hai chữ “Thái Dương”, ta nhận ra nó chính là mã hóa của chữ “Đức”.
- Bình thường Quan Sát là dụng, nữ mệnh thường được người khác chủ động theo đuổi.
- Tỉ kiếp là tự tôn, tự tin, cho nên người thân nhược đặc biệt cần có bằng hữu, càng không có bạn bè lại càng thiếu tự tin.
- Kiêu thần là nhàn nhã, lười biếng, buông tha cho chính mình và cũng không quan tâm đến người khác.
- Những thứ mà ta không có hứng thú thường là lĩnh vực bản thân không có năng khiếu. Nếu ép buộc bản thân theo đuổi, không chỉ không thu được lợi ích mà còn có thể đi lệch hướng. Cũng giống như trong Bát Tự, dụng thần đại diện cho thiên phú của bạn, còn kỵ thần là khía cạnh mà bạn yếu kém ( sở đoản). Nếu chọn ngành nghề phù hợp với dụng thần, bạn sẽ đi đúng quỹ đạo của mình và đạt được nhiều thành công.
- Nếu một nơi nào đó có hại cho bạn, bạn sẽ có cảm giác không nên đến đó. Ý thức của bạn sẽ mách bảo, giúp bạn phân biệt đúng sai. Đây chính là điều mà người ta gọi là trực giác, giác quan thứ sáu.
- Loại trái cây mà bạn thích ăn thường liên quan đến ngũ hành của dụng thần. Nếu ép bản thân ăn những thứ không thích, có thể gây ra vấn đề về sức khỏe.
- Quan hệ giữa Thiên Can – Địa Chi trong lưu niên và đại vận luôn có sự đồng bộ về thông tin. Ví dụ, năm lưu niên Bính (Quan) Tuất (Ấn), Bính là dụng thần thể hiện sự thăng tiến, nhưng Tuất Ấn tinh là kỵ thần, cho thấy việc thăng chức đi kèm với vất vả. Khi có chức vị thì cũng đồng nghĩa với nhiều gian khổ.
- Lưu niên Ất (Kiếp) Dậu (Quan), tổ hợp thập thần thể hiện dấu hiệu cắt giảm nhân sự, cải tổ tổ chức, cạnh tranh vị trí, thi tuyển công việc… (công việc và đồng nghiệp cùng xuất hiện).
- Khắc là một loại cảm xúc đối lập, tâm lý bài xích.
- Quan hệ giữa Thiên Can – Địa Chi trong lưu niên là nhân quả tương hỗ.
- Nữ mệnh có Quan Sát vượng là kị thần, nam nhân trông thấy dễ dàng động tà niệm ( thậm chí là quấy rối tình dục).
- Chi là tĩnh, Can là động, Địa Chi là mục tiêu, phương hướng và xu thế của Thiên Can.
- Thực thương là thứ do Nhật Chủ sinh ra, đại diện cho tình yêu, đối tượng mà mệnh chủ yêu thích và theo đuổi. Trong mệnh lý, nó có thể được định vị là sao Vợ (thê tinh) hoặc sao Chồng (phu tinh).
- Khi Ấn hoặc Quan Sát bị xung, thường có dấu hiệu thay đổi công việc. Nếu bị khắc chế mạnh, cũng có thể thể hiện xu hướng mất việc.
- Tam hội > tam hợp > sinh địa bán hợp, lục hợp, lục xung > mộ địa bán hợp, tam hình > hình, hại, phá.
- Người thân nhược gặp vận Thực Thương có thể chế Quan Sát, chuyển hóa Quan Sát thành chính khí, tạo thành quý khí. Người thân nhược đi vận Tỷ Kiếp có thể chuyển hóa Tài thành Chính Tài, từ đó tạo ra của cải.
- Tại sao con người lại có sự phân biệt cao thấp, giàu nghèo? Sự khác biệt nằm ở tư duy. Mỗi người nên có một triết lý sống riêng cho mình, không thể mượn triết lý của người khác, vì chưa chắc nó đã phù hợp với bản thân.
- Số phận khổ cực hay nghèo khó cũng có thể di truyền. Một đứa trẻ không được yêu thương sẽ lớn lên mà không biết cách quan tâm đến con cái của chính mình. Cha mẹ nghèo và cha mẹ giàu dạy con cái theo những hướng hoàn toàn khác nhau.
- Nhật can là phần đầu, nếu Nhật Can bị khắc, có thể dẫn đến chấn thương đầu, phá tướng hoặc gặp vấn đề về tinh thần.
- Dự đoán thông tin chính là việc kết hợp các hình tượng lại thành một chuỗi hành động liên tục, giống như ghép từng khung hình lại thành một bộ phim hoạt hình. Một hình tượng thực chất là sự tổng hợp của nhiều hình tượng khác nhau, nếu chỉ nhìn vào một điểm duy nhất để luận đoán thì khó có thể chính xác.
- Trong lưu niên, bất kỳ thập thần nào nằm dưới Nhật Can đều thể hiện những sự kiện hoặc con người có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng và tinh thần của Nhật Chủ trong năm đó. Do đó, khi xem tâm tính của Nhật Chủ, ta cần quan sát ba vị trí gần nhất xung quanh Nhật Can, vì chúng trực tiếp tác động đến đầu óc, suy nghĩ của mệnh chủ.
- Chính ấn đại diện cho lão nhân gia, là một ngôi sao hòa giải. Kiêu lại là một ngôi sao mang tính lạnh lùng và bị động, thường có thái độ tiêu cực trước mọi việc.
- Mỗi năm lưu niên khi xảy ra đại sự đều có một “từ khóa” quan trọng. Cần học cách nắm bắt từ khóa đó để hiểu được tác động của lưu niên đối với mệnh cục.
- Người thân nhược, khi Nhật Can trong lưu niên tọa vượng tinh khắc chế, có thể rơi vào trạng thái tuyệt vọng, mất hết động lực.
- Mỗi bộ phận trên cơ thể, đồ vật, thực phẩm đều có sự tương ứng với Thiên Can – Địa Chi. Ví dụ: đại tràng ứng với Dậu, mắt ứng với Tỵ, cá ứng với Hợi Thủy, gạo nếp ứng với Mùi Thổ, đậu xanh ứng với Ất và Mão, bí ngô ứng với Mậu Thổ. Những mối liên hệ này được phát hiện thông qua sự tương ứng với Bát Quái. Ngoài ra, Thân là một tín hiệu về tử vong, Tý Thủy đại diện cho con vịt. Việc hiểu rõ các mối quan hệ này có thể áp dụng vào phong thủy để cải vận.
- Vậy mối quan hệ bí ẩn giữa Thiên Can và Địa Chi trong lưu niên là gì? Thiên Can đại diện cho sự công khai, Địa Chi đại diện cho sự ẩn giấu; Thiên Can mang tính động, Địa Chi mang tính tĩnh; Thiên Can thể hiện nguyên nhân bắt đầu, Địa Chi thể hiện kết quả sau cùng.
- Người thân nhược bị Quan Sát khắc chế có một cách hóa giải là thường xuyên rời khỏi nhà. Nguyên lý là vị trí của Nhật Can trong Bát Tự chính là “nhà” của Nhật Chủ. Khi rời khỏi nhà, vị trí của Nhật Can thay đổi, từ đó Quan Sát không còn khắc chế trực tiếp được nữa.
- “Sinh” không chỉ đơn thuần có nghĩa là yêu thương, thích thú hay cống hiến, mà còn có nghĩa là theo đuổi, khao khát, hấp dẫn và lôi cuốn.
- Dụng thần là thuận cảnh, kị thần là một loại nghịch cảnh, mâu thuẫn.
- Ngũ vị có thể kết hợp tạo nên hương vị món ăn ngon nhất, ngũ âm có thể phối hợp thành bản nhạc hay nhất, ngũ sắc có thể tạo ra bức tranh rực rỡ nhất. Và tám chữ trong Tứ Trụ có thể tạo thiên hình vạn trạng nhân sinh.
- Quan Sát là một dạng tài nguyên nhân lực, cũng là mối quan hệ xã hội. Người có Quan Sát vượng làm dụng thần, bất kể nam hay nữ, đều có năng lực giao tiếp xuất sắc, biết cách xử lý các mối quan hệ xã hội. Giống hệt quan cách toàn thân thể hiện một mạng lưới quan hệ rộng lớn. Người có Quan Sát làm dụng thần là người có quyền uy, có người nghe theo, thần phục, nên họ chính là hoàng đế, lãnh tụ, vĩ nhân,… hay những người có khả năng quy tụ nhân tâm.
- Có vượng ấn sinh thân điều đó cho thấy phụ mẫu cha mẹ rất quan tâm, xem trọng các ngươi.
- Hóa ra ấn cũng là sức hiểu biết, thiếu ấn chính là sự hiểu biết kém hơn bình thường.
- Người thân nhược, nếu cần Ấn tinh để thông quan, thường là người ít chủ kiến, biết quan tâm đến cảm xúc của người khác. Đặc biệt, người có Kiêu thần thường rất nhạy bén trong đối nhân xử thế, có thể thấu hiểu tâm lý và suy nghĩ của bạn bè.
- Một nhà nghiên cứu dịch học có thể sánh ngang với một vĩ nhân. Nắm vững dịch lý chính là nắm bắt cả thế giới. Một nhà dịch học chân chính có thể cứu rỗi linh hồn con người.
- Dịch học nói cho ngươi biết một loại trí tuệ vĩ đại và thâm sâu, nói cho ngươi biết rằng sự nghèo khổ, đau đớn, bệnh tật và tai họa mà ta đang gánh chịu đều là kết quả từ nghiệp lực của kiếp trước và những sai lầm trong quan niệm sống của kiếp này.
- Vũ trụ vận hành theo nguyên lý cân bằng, mọi thứ trung hoà chính là trạng thái tốt nhất. Ông trời yêu thương những người ngốc nghếch, khi bạn mất đi thứ không thể mất, trời cao cũng sẽ trao cho bạn một điều quý giá nhất trên thế gian này.
- Nguyên lý cân bằng có thể tìm thấy ngay trong cuộc sống hàng ngày. Tại sao những người ăn rau củ quả thường có chỉ số IQ cao hơn so với người ăn thịt, nhưng những người ăn thịt lại thường giàu có hơn nhiều so với người ăn chay? Người ăn chay thường có lòng bàn tay phẳng và tái xanh, kiểu bàn tay này được xem là tướng số nghèo khó. Ngược lại, những người ăn thịt có lòng bàn tay đỏ hồng và đầy đặn. Nếu quan sát kỹ, bạn sẽ thấy những người giàu có thường có lòng bàn tay dày và căng tròn. Điều này phản ánh một bí ẩn của vũ trụ: con người không thể có được tất cả, mọi thứ đều phải tuân theo nguyên tắc cân bằng.
- Những người thuộc các tầng lớp khác nhau đi trên những con đường khác nhau trong cuộc đời. Người nghèo không có tiền để di chuyển chỗ ở, nên họ mãi mãi sống ở những nơi khiến họ không thể phát tài, và điều này cũng chính là số mệnh đã an bài cho họ.
- Trong xã hội có nhiều kẻ trộm cắp, du đãng mang tính cách của Kiêu thần, phản ứng nhạy bén, có trực giác, khả năng phân tích và phán đoán mạnh, ý thức phòng vệ cao và rất giỏi trong việc nắm bắt tình huống.
- Chính ấn cả một đời lao tâm khổ tứ vì người khác. Ấn đại biểu vất vả, chịu khó làm việc, sống được trong sự mệt mỏi. Chính Ấn là dụng thần thì vui vẻ, là kỵ thần thì phiền muộn, liên quan đến hệ thống tư duy.
- Học về lưu niên tinh hoa là kết hợp giữa Ngũ hành, tính chất, Thập thần, Thần sát và Cung vị để lấy tượng. Đây là chìa khóa vàng mở ra sự ứng nghiệm của lưu niên.
- Bát tự Thuần âm thuần dương bát tự sẽ có có thể một ít ý tưởng đây? mang đến những hình tượng nào? Thuần Âm – thuần Dương có lực sinh khắc đồng tính rất mạnh, khiến vận mệnh thăng trầm lớn, ứng cát hay ứng họa đều rõ rệt.
- Thuần âm bát tự thích sự vật thần bí, có duyên với Dịch học. Có tượng cô độc, dễ xuất gia.
- Người có Dụng thần bị vượng khắc thì chiều cao tất nhiên thấp.
- Làm sao để xem hung cát của Lục thân? Dùng nguyên lý chuyển đổi thái cực, thông qua biến hóa của Lục thân tinh để xem. Ví dụ, ngày chủ Kỷ, Nhâm Thủy là Chính Tài – tượng cha. Chính Ấn của Kỷ là Bính Hỏa, nhưng đối với Nhâm Thủy thì Bính Hỏa là Thiên Tài. Chính Quan của Kỷ là Giáp Mộc, nhưng với Nhâm Thủy thì Giáp Mộc là Thực Thần. Dùng cách này để xem Thập thần trong lưu niên.
- Bát tự phản ánh bản thân là thông tin thứ nhất, phản ánh Lục thân là thông tin thứ hai, nhưng khá mơ hồ. Nguyên lý Lục thân thông biến chính là chuyển đổi thông tin thứ hai thành dạng thông tin thứ nhất để xem.
- Nhật can tọa Tỷ Kiếp (là kỵ thần) thì vợ chồng hay tranh cãi, vì Tỷ Kiếp vốn là tranh giành, cả đời đều tranh giành.
- Nữ mệnh nhật tọa thương thực, nam mệnh nhật tọa tỉ kiếp phu thê thì vợ chồng dễ có cảnh sinh ly tử biệt.
- Nhật chi tọa tỉ kiếp là dụng, đại vận phục ngâm cung phu thê, nam mệnh cưới phú bà, nữ mệnh gả phú ông.
- Nhật chi tọa tỉ kiếp làm hỷ dụng thì nhiều bạn bè tâm giao.
- Nhật chi là thế giới nội tâm của Nhật chủ. Nếu Tuế vận tại Nhật chi bị Phục Ngâm và là hỷ thần thì vui vẻ, cười nói. Nếu là kỵ thần thì nội tâm đau khổ, khóc lóc, có thể ứng với ngày tử vong.
- Nhìn độc lập từ Nhật can và Nhật chi: Nhật can là đầu, Nhật chi là chân tay. Nếu Nhật chi gặp Dịch Mã bị xung thì dễ bị trượt ngã, đứng không vững.
- Quan Sát quá vượng khắc thân, bất kể là hỷ hay kỵ, đều dễ có tai họa như bệnh tật, thương tổn, tai nạn, sợ hãi, té ngã, tàn tật, ung thư.
- Toàn Âm là xu hướng tự tránh né, che giấu, thiên về nội tâm, không thích đến những nơi công khai, cởi mở.
- Kiêu ấn là kị thần bình thường không nói một lời, thâm tàng bất lộ, nội tâm cô tịch.
- Phục Ngâm mang ý nghĩa gì? Nếu Tuế vận Phục Ngâm cung Lục thân thì Lục thân dễ bệnh tật, thương tổn, phẫu thuật, sinh ly tử biệt. Phục Ngâm cũng có tượng kết hôn, dời nhà, ly hôn, hợp nhất.
- Nữ mệnh tam hợp hội Quan Sát cục, nam mệnh tam hợp hội tài cục có một loại cảm giác tình nhân của đại chúng ( kiểu idol).
- Có căn thì độc lập tự chủ, không có căn thì tùy thời ứng biến, có tư tưởng dựa dẫm vào người khác.
- Tài vượng tượng trưng cha, Ấn vượng tượng trưng mẹ.
- Can Chi chính là duyên. Can Chi nào xuất hiện trong lưu niên thì duyên của Can Chi đó đến. Ví dụ, nếu Tài tinh lộ ra trong lưu niên thì duyên vợ hoặc duyên nữ đến. Nếu Can Chi trong lưu niên bị khắc đi thì duyên của Can Chi đó mất. Ví dụ, Quan Sát bị khắc thì duyên chồng hoặc duyên nam mất đi, rời xa. Quan tọa khắc thì lưu niên đó duyên đến nhưng không ở lại, giống như Tài tọa khắc thì tiền đến rồi cũng đi. Nhân sinh đã định sẵn duyên sâu hay nông với ai, điều đó phụ thuộc vào độ vượng của Can Chi.
- Thiên can chủ ngoại, Địa chi chủ nội, ví dụ như bạn thân. Thiên can là công khai, Địa chi là ẩn giấu, như Chính Quan lộ ra chủ danh chính ngôn thuận, còn Ẩn Quan chủ tình cảm giấu kín.
- Tài khí kết hợp Quan Sát (kỵ, vượng) giống như vì nghèo mà dẫn đến địa vị thấp kém, không được tôn trọng, ví như gái mại dâm.
- Tứ trụ thể hiện tính chất, bản chất, chỉ luận về tính chất chứ không luận về con người.
- Thông thường, năm thứ hai sau kết hôn là thời điểm ứng kỳ sinh con cái.
- Hôn tai (tai ương về hôn nhân) ứng vào lưu niên tranh chấp lớn nhất, chứ không phải năm ứng ly hôn.
- Người có Kim vượng thì không yếu đuối.
- Ấn chủ cuộc sống. Ấn tọa Nhật chi thì chủ được cung Phu Thê chăm sóc đời sống. Sát chủ sự nghiệp. Sát tọa Nhật chi thì chủ được cung Phu Thê hỗ trợ, thúc đẩy sự nghiệp. Tài chủ kinh tế. Tài tọa Nhật chi thì chủ được cung Phu Thê trợ giúp tài chính.
- Thất Sát hiếu động. Quan Sát là đối nhân xử thế, đạo lý đối đãi với người và việc.
- Là hỷ thần thì đồng lòng, là kỵ thần thì bất hòa.
- Thất Sát (kỵ) chủ người ở xa, lớn tuổi, tác phong không chính trực, từng kết hôn, không còn trong trắng. Chính Quan chủ người gần, nhỏ tuổi, tác phong chính trực, chưa từng kết hôn.
- Thương Quan (kỵ) hay kích động, khiêu khích, giật dây tạo tranh chấp.
- Chỉ cần nhìn Thập thần tinh lộ ra ở Thiên can trong lưu niên thì biết Nhật chủ sẽ làm gì, vì tư duy quyết định hành động. Thiên can tác động trực tiếp đến tư tưởng của Nhật chủ.
- Khi luận lưu niên, cần chú ý các điểm quan trọng sau:
- Tam hợp, Tam hội cục.
- Ngũ hành yếu nhất và mạnh nhất.
- Dương Nhận vượng, cục Dương Nhận.
- Tinh nhập Mộ, Không Vong.
- Quan Sát vượng.
- Xung, Trực cung Phu Thê.
- Thương Quan khắc Quan.
- Quan Sát chủ danh tiếng – có thể là danh thơm hay tiếng xấu, vinh quang hay ô nhục, có được tôn trọng hay không.
- Thương Quan thích trêu chọc, đùa giỡn người khác để tìm vui.
- Mật mã của phong thủy là nhìn giống cái gì thì chính là cái đó.
- Chính Ấn chủ tình thân, Chính Ấn gần gũi với tất cả mọi người, không xa lánh ai. Dễ đi vào lòng người, nên Chính Ấn có tính hòa đồng.
- Năm có Chính Ấn vượng thường ứng với việc thi cử, học hành tiến bộ.
- Khi một Thập Thần nào đó bị khắc chế, bạn sẽ mất đi mối nhân duyên với nhóm người hoặc sự vật mà Thập Thần đó đại diện.
- Quan Sát (kỵ) là tà khí, nếu Nhật Can bị Quan Sát khắc chế, tà khí này sẽ ảnh hưởng đến suy nghĩ của mệnh chủ, khiến họ trở nên xấu xa, đồng hóa với loại khí này.
- Ấn là nguồn cảm hứng vô tận. Thiếu Ấn (dụng) sẽ thiếu tư duy, suy nghĩ không linh hoạt. Người có Ấn vượng thì linh hoạt, nhanh nhạy. Người thiếu Ấn thường bị bế tắc, không chịu tiếp xúc thông tin, sự việc mới mẻ, làm việc mà không suy nghĩ, ít phân tích nên dễ trở thành người không biết gì, tư duy khép kín. Quá trình suy nghĩ giúp con người vui vẻ hơn, nếu không dùng trí não thì cuộc sống sẽ trở nên tẻ nhạt, tâm trạng u uất. Chỉ có suy nghĩ và hiểu rõ về cuộc sống mới khiến mỗi ngày trở nên thú vị. Cách cải vận tốt nhất cho người thiếu Ấn là dùng não để tư duy.
- Tư tưởng là linh hồn của quỹ đạo cuộc đời, mệnh lý là một bộ môn nghiên cứu về quỹ đạo cuộc sống của con người. Tư tưởng là điểm khởi đầu, quyết định vận trình và kết quả của cuộc đời, cũng như con đường sinh tồn của một người.
- Dụng thần chính là điểm tựa để Nhật Chủ tồn tại trong thế gian này.
- Thiên Can lộ Thiên Tài thì không thiếu tiền tiêu.
- Tài vượng nhưng là kỵ thần sẽ bị cha liên lụy, phải tiêu tiền vì cha, hoặc trả nợ cho cha.
- Vận trình gặp Tỷ Kiếp thì dễ ly hôn, hoặc đoạn tuyệt quan hệ với cha.
- Nhật trụ tọa Tỷ Kiếp thì cả đời dễ cùng vợ (chồng) hợp tác làm ăn.
- Ấn tinh ở gần (sát thân) và là dụng thần thì mệnh chủ vui vẻ, hạnh phúc.
- Thủy là vật lạnh, người có Thủy vượng thường mang lại cảm giác lạnh lẽo, có phần u tối, giống như Kiêu Thần (Thiên Ấn).
- Người có căn mạnh thì tính cách kiêu ngạo, coi trọng tự tôn, tự tin, độc lập và không phụ thuộc vào ai. Ngược lại, người theo Tòng Cách thì dễ khom lưng, nịnh bợ, nói lời dễ nghe nhưng không có chính kiến, không thể tự lập.
- Hỏa có mối quan hệ đặc biệt với tài phú, bởi kim loại (sắt) chính là tài lộc.
- Lục thân nếu là dụng thần thì nhân phẩm tốt, nếu là kỵ thần thì nhân phẩm xấu.
- Trong Thập Thần, Quan Sát có uy lực lớn nhất. Giống như trong thực tế, Thương Quan khắc Quan thường dẫn đến tai họa lớn, có thể vì Quan không thể bị khắc chế.
- Tài tinh mang tính thực dụng, đại diện cho sự thực tế.
- Dương Nhận chủ về ẩu đả, vi phạm pháp luật.
- Khi lưu niên Ấn tinh bị khắc mạnh, công việc hoặc áp lực trong đơn vị, công ty sẽ rất lớn.
- Tài tinh hợp với Nhật Can thì khi bàn chuyện tiền bạc dễ tổn thương tình cảm.
- Bát quái dùng để đoán những việc chi tiết, sự kiện gần đây có mối liên kết duy nhất. Bát tự thì không như vậy, một Thập Thần có thể đại diện cho nhiều sự kiện và con người. Ví dụ, khi Nhật trụ tọa Thất Sát (kỵ) và gặp lưu niên không thuận, có thể xảy ra tranh cãi với vợ/chồng, đánh nhau với người thân bên nhà vợ/chồng, ly hôn, mất điện thoại, xe đạp bị trộm – tất cả những điều này đều là biểu hiện của Sát khắc thân. Đây chính là lý do vì sao mệnh lý khó học.
- Mô hình mệnh lý không có sự tương ứng duy nhất, điều này giải thích tại sao cùng một lá số nhưng có kết quả khác nhau, cũng như lưu niên có Thập Thần giống nhau nhưng lại tạo ra nhiều biểu hiện khác nhau.
- Kiêu Ấn bảo thủ, bi quan, chán đời.
- Thất Sát lộ (kỵ) thì không vui, thường xuyên mâu thuẫn với cấp trên.
- Thiên Tài kiếm tiền không vất vả.
- Kiêu Thần đại diện cho người mẹ lạnh lùng, còn Chính Ấn đại diện cho người mẹ có trách nhiệm, chăm chỉ và sẵn sàng hy sinh.
- hưởng, con người dễ sinh ác niệm. Nếu không có chính niệm để dẫn dắt, con người dễ rơi vào địa ngục trần gian. Chỉ có chính khí, giữ tâm hồn thanh tịnh mới có thể cứu rỗi bản thân. Quan Sát dẫn con người đến địa ngục, hủy diệt bản thân, bởi vì nó khắc Nhật Chủ. Điều này lý giải vì sao Quan Sát khiến con người có suy nghĩ tự sát. Những điều này đáng để suy ngẫm, bởi vì Quan Sát luôn khiến người ta nảy sinh ý niệm hủy diệt, có thể là tự hủy hoại bản thân hoặc làm tổn thương người khác.
- Thực Thương, Ấn Kiêu giúp học tập tốt, dễ tiếp thu, hiểu nhanh. Đây chính là điều gọi là thiên phú. Người thiếu Ấn hoặc Thực Thương thì phải dựa vào sự chăm chỉ mới đạt được danh tiếng.
- Thất Sát chủ về bạo lực, đổ máu, người có Thất Sát dễ tạo ra sự kiện nghiêm trọng, gây ra tai họa lớn, thậm chí là sự kiện đẫm máu.
- Thương Quan có tầm nhìn xa.
- Khi bạn làm việc thiện, vị Bồ Tát cứu rỗi bạn thực ra chính là bản thân bạn. Từ đó có thể thấy được sự rộng lớn của thiên đạo. Điều này thực ra chỉ là quy luật luân hồi.
- Thổ mang tính chất truyền thống, nó muốn giữ vững hình thái ban đầu, không thay đổi.
- Quan Sát khắc Nhật Can thì mệnh chủ hay bị giày vò, gặp nhiều trắc trở. Người có Quan Sát vượng thường làm lao động chân tay nhiều.
- Quan Sát đại diện cho địa vị xã hội, thể hiện tầng lớp sống của một người.
- Nhật Chi phục ngâm là cát tường thì sẽ gặp người mình thích, vì vị trí này vốn dĩ đại diện cho tình yêu và hôn nhân. Phục ngâm = xuất hiện, nghĩa là trong lòng sẽ có người mình thích xuất hiện
- Nhật Can tọa khắc lưu niên thì cơ thể dễ gầy gò, hao tổn thể lực.
- Ấn vượng (dụng) thì đầu óc minh mẫn, có nhiều tri thức, mở rộng tầm nhìn.
- Quan Sát khắc thân dễ khiến mệnh chủ mất mặt, chịu nhục.
- Nếu lục thân tinh ở xa Nhật Can, thì hoặc là người thân ở xa, hoặc là tâm lý có khoảng cách lớn.
- Kiêu Ấn (kỵ) tọa Nhật Chi, nội tâm dễ cô độc, chán đời, thậm chí có xu hướng tự sát.
- Kiêu Ấn thích nghiên cứu những điềm báo trong giấc mơ, cũng hứng thú với mệnh lý, có tư duy vượt mức bình thường.
- Kiêu thần rất thực tế, kể cả với người thân cũng rạch ròi về tiền bạc, vì họ cho rằng tiền là thứ gắn bó sâu sắc nhất.
- Quan Sát là dụng thần thì trông có khí chất, mang dáng vẻ quý phái.
- Quan Sát đại diện cho thể diện, mặt mũi.
- Thực Thần giỏi giao tiếp, có tài xã giao, dễ được yêu mến, nhờ vào mạng lưới quan hệ rộng để tạo dựng khách hàng.
- Ở từng độ tuổi khác nhau, Thập Thần sẽ có cách biểu hiện khác nhau.
- Bính Ấn vô tư tỏa sáng và mang sự ấm ấp đến cho thế gian, để sưởi ấm lòng người. Cái lạnh khiến con người trở nên tàn nhẫn, vô tình, trong khi ánh sáng và hơi ấm giúp họ trở nên chính trực, lạc quan và hòa nhã hơn.
- Nếu trong một thế giới hắc ám, bạn nhìn thấy ánh sáng, chứng tỏ bạn thuộc về thiên đường. Còn nếu chỉ nhìn thấy bóng tối, thì bạn nên tự hỏi mình có xứng đáng lên thiên đường không.
- Sự mạnh yếu của con người là do khí quyết định. Khi khí vượng thì con người mạnh mẽ. Sự mạnh yếu không phải do con người kiểm soát mà là do khí vượng hay suy. Một người có khí thế thịnh vượng, dù là một đứa trẻ cũng có thể mang uy quyền của một vị hoàng đế.
- Nếu nhìn mệnh lý bằng con mắt của một người phàm tục thì không thể học mệnh lý một cách sâu sắc.
- Mệnh lý không phải là dùng tâm thế của phàm nhân để nhìn nhận thế giới, mà là một môn thoát tục.
- Quẻ và lưu niên thiên can địa chi chỉ phản ánh một trạng thái. Ví dụ như dòng nước chảy, làm thế nào để biểu đạt trạng thái đó? Chẳng hạn, một năm nào đó mệnh chủ đi xa để phẫu thuật mắt (bị bong võng mạc), thì lưu niên phản ánh trạng thái này như thế nào?
- Quan Sát có hình dạng như một vòng tròn, giống như nhà tù, độc tố (vì độc là sinh vật ăn chính dinh dưỡng của nó – một cái miệng), thị phi, bẫy rập, ung thư (ba cái miệng ăn hết dinh dưỡng của mình), bị lợi dụng (như quấy rối tình dục, cưỡng hiếp),…
- Ngũ hành đại diện cho các nghề nghiệp: Kim chủ về pháp luật – cảnh sát, Thủy chủ về kinh tế – thương nhân, Mộc chủ về nhân từ – hòa thượng, tín đồ Phật giáo, Thổ chủ về giáo dục – giáo viên, Hỏa chủ về văn minh – học giả.
- Sửu (trâu) thuộc Cấn cung (Dần, Sửu thuộc Cấn cung). Cấn là sao Tả Phụ Bát Bạch – tài tinh lớn, vì thế ăn thịt bò là hấp thụ khí tài tinh.
- Thủy là vật hư ảo, mang ý nghĩa tiểu nhân.
- Nếu Canh, Tân Kim lộ ra nhưng nhược (bất kể là dụng hay kỵ), thì vào năm Kim vượng có căn dễ mắc bệnh về đường hô hấp.
- Hợp có đặc điểm khôn khéo, mềm dẻo, uyển chuyển, vì hợp đại diện cho sự uốn lượn, ôm trọn. Đã có thể bao bọc thì tất nhiên phải tròn.
- Thất Sát vượng có liên quan đến bệnh nan y, Kiêu thần giỏi lừa gạt, cũng giỏi kinh doanh.
- Một kiểu tư duy thông minh là khi làm một việc phải có nhiều mục tiêu và động cơ, như vậy ngay cả khi thất bại ở một mặt, vẫn có thể đạt được lợi ích ở mặt khác.
- Nếu Nhật Can yếu mà bị Quan Sát khắc, dễ bị chóng mặt, đầu óc quay cuồng.
- Để nhiều đồ lặt vặt trong nhà khiến con người trở nên kém thông minh, vì tạp vật thuộc Thổ, Thổ quá nhiều làm đầu óc trì trệ, dễ sinh bệnh.
- Thực Thương mang ý nghĩa đổi mới, đại diện cho diện mạo và khí tượng mới. Khi lưu niên Thực Thương kết hợp với Ấn Tinh, điều này biểu thị sự thay đổi, thay thế hoặc cập nhật liên quan đến Ấn. Sự thay đổi này xuất phát từ bản tính Thực Thương vốn ưa thích cái mới.
- Thực thương tâm tính hiếu kỳ, thích sự tươi mới, yêu thích thay đổi, bao gồm việc thay đổi bạn gái, nơi ở, công việc, v.v…
- Hợp mang ý nghĩa chủ động tìm kiếm, sẵn sàng cho đi.
- Kiếp tài thì hiếu chiến, thích đánh nhau.
- Căn cùng phu thê tinh hợp thì có hình tượng quan hệ tình dục, vì căn khí đại diện cho cơ thể con người, mà dùng cơ thể tiếp xúc chính là quan hệ tình dục.
- Lưu niên Tỉ Kiếp tọa Quan Sát biểu thị việc chia tay với đối tác làm ăn, hợp tác gặp áp lực.
- Kiêu Thần có thủ đoạn, mưu lược.
- Ấn không xuất hiện hoặc không gần Nhật Can, nghĩa là cha mẹ không còn đặt kỳ vọng hay coi trọng mình.
- Ấn gần và sinh thân, nghĩa là cha mẹ không bao giờ bỏ rơi mình, luôn lo lắng, quan tâm.
- Địa Chi mang cả âm lẫn dương biểu thị tâm tư không ổn định, dễ thay đổi, dễ hai mặt, không đơn thuần, không thực tế, hay giả tạo.
- Thủy là lừa gạt, nói láo chi vật.
- Thông quan = thương lượng, liên hệ.
- Lưu niên tốt nhưng nếu lưu nguyệt có năng lượng quá mạnh cũng không phải điềm lành.
- Quý dậu can chi ( lấy thủy là kị ) đại biểu cảm mạo, chảy nước mũi, viêm mũi, đờm,… do nhiễm lạnh và các bệnh liên quan đến mũi.
- Nhật Chi Phục Ngâm (là kỵ thần) là tín hiệu của cái chết.
- Dương Nhận là cát thần, sẽ ứng với hôn nhân, đỗ đạt, thăng chức.
- Mộc vượng là kỵ thần và Quan Sát (cũng là kỵ thần) khắc Nhật Can thì dễ bị đau răng (vì răng liên quan đến thần kinh).
- Khi Ngọ Dương Nhận, Thương Quan khắc Kim Quan, Kim Thương Quan khắc Quan thì dễ có tai nạn xe cộ.
- Chính Ấn chủ về nói nhiều, phiền hà, lo âu, lao tâm khổ tứ, bận rộn.
- Nhật Can bị khắc quá mức có thể dẫn đến bệnh tâm thần.
- Mệnh theo Tòng Cách có khả năng tạo dựng quan hệ.
- Thực Thương đại diện cho việc tìm kiếm con đường phát triển, tính toán kế hoạch.
- Mức độ vượng suy thể hiện mức độ đầu tư công sức, tâm huyết và mức độ ham muốn.
- Liên tục tương sinh tạo thành mạng lưới quan hệ.
- Ấn đại diện cho sức mạnh liên kết, kết nối.
- Vượng suy có thể định ra tượng khác nhau.
- Dù một người đi đến đâu, xung quanh họ vẫn luôn bao phủ bởi loại trường năng lượng mà họ mang theo.